Nghị quyết 80 đưa ra khái niệm chi tiết về vai trò của văn hóa trong khuôn khổ phát triển quốc gia của Việt Nam. Trong đó, định nghĩa văn hóa đồng thời là "nền tảng", "nguồn lực nội sinh", "động lực", "trụ cột" và "hệ thống điều tiết" cho sự phát triển nhanh chóng và bền vững của đất nước. Khái niệm văn hóa như một "hệ thống điều tiết" cho thấy văn hóa không chỉ được coi là một lĩnh vực hoạt động mà còn là khuôn khổ rộng lớn hơn định hình các tương tác trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội, môi trường và quản trị.
Định nghĩa này có thể được hiểu là sự mở rộng của khái niệm văn hóa là trụ cột thứ tư của phát triển bền vững mà nhà nghiên cứu, nhà tư vấn văn hóa Jon Hawkes (Úc) nêu ra lần đầu tiên (năm 2001) trong diễn ngôn chính sách văn hóa. Trong mô hình 4 trụ cột cổ điển, văn hóa được đặt ngang hàng với các khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trường như một lĩnh vực quan tâm chính sách bình đẳng. Nghị quyết 80 cho thấy một kiến trúc chính sách tích hợp hơn, trong đó văn hóa không chỉ cùng tồn tại với các lĩnh vực này mà còn định hình các định hướng chuẩn mực, mô hình hành vi và logic thể chế mà chúng vận hành.
Định hướng của Nghị quyết cũng nêu văn hóa cần được "liên kết chặt chẽ, hài hòa và sâu sắc vào mọi khía cạnh của đời sống xã hội - từ chính trị, kinh tế và xã hội đến môi trường, quốc phòng, an ninh và đối ngoại". Điều này có thể được hiểu là chỉ báo về ý định tích hợp các yếu tố văn hóa vào tất cả các lĩnh vực chính sách.

Không gian nghệ thuật tại Trường Khoa học liên ngành và Nghệ thuật - Đại học Quốc gia Hà Nội ẢNH: THẾ TRẦN
Là một trụ cột, văn hóa cũng được xác định về đầu tư công theo hướng "đầu tư vào văn hóa là đầu tư vào sự phát triển bền vững của đất nước và tương lai của quốc gia". Chi tiêu cho văn hóa không chỉ được trình bày đơn thuần là hỗ trợ sản xuất nghệ thuật hoặc biểu tượng mà còn là một phần của chiến lược phát triển rộng lớn hơn gắn liền với vốn xã hội, sự sáng tạo và năng lực đổi mới. Quan điểm này phù hợp với các cuộc thảo luận quốc tế rộng rãi về vai trò của văn hóa trong phát triển bền vững, được nêu bật trong báo cáo về chính sách sáng tạo 2026, trong đó xác định tình trạng đầu tư chưa đầy đủ vào văn hóa là thách thức mang tính cấu trúc ở nhiều quốc gia.
Theo nhiều nghiên cứu, báo cáo của UNESCO, chính sách văn hóa thường bị suy yếu khi chỉ giới hạn trong phạm vi Bộ quản lý văn hóa. Muốn mạnh, cần tăng cường phối hợp liên bộ. Nghị quyết 80 giải quyết vấn đề này thông qua Ủy ban Chỉ đạo T.Ư, và cũng thông qua nhiệm vụ rõ ràng rằng văn hóa phải "thấm nhuần mọi kế hoạch, dự án và chiến lược" trong toàn bộ Chính phủ. Nghị quyết 80 đặt mục tiêu tăng cường khung pháp lý hỗ trợ, trong đó có văn bản lập pháp do Quốc hội thông qua. Văn bản của Quốc hội sẽ tạo cơ sở pháp lý để biến sự phối hợp liên bộ thành nghĩa vụ ràng buộc chứ không chỉ là nguyện vọng.
Nhiều ưu tiên của Nghị quyết 80 là xu hướng toàn cầu
Theo báo cáo toàn cầu của UNESCO, có thể thấy 100% quốc gia hiện nay đã có Bộ phụ trách văn hóa - một thành tựu lịch sử. Cũng theo báo cáo này: 85% các quốc gia công nhận ngành công nghiệp văn hóa trong kế hoạch phát triển quốc gia nhưng chỉ 56% đặt ra các mục tiêu văn hóa cụ thể. Chi tiêu công trung bình toàn cầu cho văn hóa là dưới 0,6% GDP. Các nước đang phát triển chỉ nắm giữ 5% thị trường sử dụng sở hữu trí tuệ toàn cầu và 0,5% vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong lĩnh vực văn hóa - lợi ích kinh tế vẫn tập trung ở các nước phát triển.
Trong khi đó, với Nghị quyết 80 về phát triển văn hóa Việt Nam, chúng ta không chỉ có Bộ VH-TT-DL. Nghị quyết còn đề xuất thành lập Ban Chỉ đạo T.Ư về phát triển văn hóa. Sau đó, ông Trần Cẩm Tú, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư, được giao đảm nhiệm Trưởng ban này. Như vậy, công tác điều phối phát triển văn hóa được đặt ở cấp cao hơn cấp Bộ trong cơ cấu quản trị quốc gia. Văn hóa cũng được coi là trụ cột của phát triển bền vững với các mục tiêu cụ thể cho từng giai đoạn. Nghị quyết 80 còn quy định mức phân bổ tối thiểu 2% ngân sách nhà nước hằng năm cho phát triển văn hóa; đặt mục tiêu công nghiệp văn hóa đóng góp khoảng 7% GDP vào năm 2030 và 9% vào năm 2045, cho thấy nỗ lực chiến lược nhằm mở rộng vai trò của lĩnh vực này trong nền kinh tế quốc gia.

Ẩm thực đặc trưng của địa phương sẽ đóng góp vào việc làm du lịch văn hóa, làm kinh tế ẢNH: LINH TÂM
Cũng trong tương quan so sánh dựa trên báo cáo của UNESCO, trong số 148 luật về trí tuệ nhân tạo trên toàn cầu, chỉ có một luật đề cập đến văn hóa - một lỗ hổng quản trị nghiêm trọng. Trong khi đó, Nghị quyết 80 đề cập các vấn đề về chủ quyền văn hóa số, an ninh văn hóa trong môi trường số và quản lý các nền tảng số xuyên biên giới…
Có thể thấy sự tương đồng, phù hợp của Nghị quyết 80 với các xu hướng trên thế giới không phải do ngẫu nhiên. Trước đó, Công ước UNESCO năm 2005 đã "hiện diện" trong chính sách văn hóa Việt Nam suốt thập niên qua, trong đó có Nghị quyết số 33-NQ/TW (2014) và Chiến lược phát triển ngành công nghiệp văn hóa quốc gia (2024).
Như vậy, có thể thấy Nghị quyết 80 phù hợp chặt chẽ với các định hướng toàn cầu được xác định trong báo cáo của UNESCO. Nghị quyết cũng thể hiện các xu hướng này thông qua các mục tiêu quốc gia, với các thời hạn và biện pháp quản trị rõ ràng hơn. Điều này cũng rất tương đồng với phát động Thập kỷ văn hóa vì phát triển bền vững của UNESCO (2026 - 2035), trong đó văn hóa được đặt ở vị trí trung tâm của chương trình nghị sự phát triển toàn cầu.
Điều đáng chú ý là sáng kiến Thập kỷ văn hóa vì phát triển bền vững này do Việt Nam đề xuất và được thông qua tại Đại hội đồng UNESCO lần thứ 43 tại Uzbekistan vào tháng 11.2025. Nghị quyết 80 cho thấy ý định của Việt Nam đóng góp sớm vào các mục tiêu của Thập kỷ. Bản thân UNESCO cũng đánh giá Nghị quyết 80 "trùng khớp với tầm nhìn chung và nỗ lực của UNESCO trong việc đưa văn hóa trở thành một Mục tiêu Phát triển Bền vững độc lập trong chương trình nghị sự toàn cầu sau năm 2030".
(Trinh Nguyễn ghi)




.jpg)





.jpg)



