Điểm yếu lớn nhất là thiếu các đại học nghiên cứu đúng nghĩa
Từ mô hình Humboldt thế kỷ 19, đại học hiện đại không còn là nơi chỉ truyền đạt tri thức, mà còn là trung tâm nghiên cứu, sáng tạo và dẫn dắt tư tưởng. Tuy nhiên, trong phần lớn quá trình phát triển của mình, giáo dục đại học VN chủ yếu được nhìn như nơi đào tạo và cung ứng nguồn nhân lực cho nền kinh tế.

VN đặt khoa học - công nghệ, giáo dục đại học và đổi mới sáng tạo vào trung tâm chiến lược phát triển quốc gia
ẢNH: NHẬT THỊNH
Nhưng trong thế kỷ 21, dưới tác động của trí tuệ nhân tạo (AI), công nghệ số và cạnh tranh địa chính trị - công nghệ, đại học đã trở thành hạ tầng chiến lược của năng lực cạnh tranh quốc gia.
Quốc gia nào sở hữu các trung tâm sản sinh tri thức, công nghệ lõi và tinh hoa dẫn dắt sẽ làm chủ chuỗi giá trị. Quốc gia nào tiếp tục dựa vào lao động giá rẻ, gia công và nhập khẩu công nghệ sẽ tiếp tục ở vị trí thấp trong trật tự phát triển mới. Đó không còn là cảnh báo. Đó là thực tế đang diễn ra.
Nhiều năm qua, đại học VN phát triển nhanh về quy mô: số trường tăng, sinh viên tăng, công bố quốc tế cải thiện. Nhưng nếu nhìn thẳng vào năng lực tạo công nghệ lõi, bằng sáng chế quốc tế hay đóng góp cho các ngành chiến lược như bán dẫn, AI hay công nghệ sinh học, khoảng cách của đại học VN với các đại học nghiên cứu hàng đầu châu Á vẫn còn xa.
Điểm yếu lớn nhất của đại học VN không phải thiếu trường, mà thiếu các đại học nghiên cứu đúng nghĩa. Nhiều trường hiện vẫn vận hành như cơ sở đào tạo mở rộng quy mô hơn là trung tâm tạo tri thức mới. Thành công nhiều khi vẫn được đo bằng số lượng tuyển sinh, số ngành mở mới hay số lượng bài báo được đong đếm cơ học, thay vì năng lực giải quyết những bài toán phát triển của đất nước và năng lực tạo ra công nghệ có giá trị thực.
Đại học VN đang mạnh về bài báo nhưng còn rất yếu về bằng sáng chế quốc tế; nếu so sánh về số lượng bằng sáng chế quốc tế với các đại học trong khu vực, thì sự hiện diện của các đại học VN trên bản đồ sở hữu trí tuệ công nghệ toàn cầu vẫn còn mờ nhạt.
Đó là khoảng cách đáng lo.
Đại học tham gia tạo tương lai quốc gia
Trong khi đó, mô hình đại học thế giới đã thay đổi rất nhanh. Đại học Stanford góp phần tạo ra Thung lũng Silicon, MIT trở thành trung tâm kết nối công nghệ - quốc phòng - công nghiệp của Mỹ. Đại học Bắc Kinh và Thanh Hoa đang đóng vai trò trung tâm trong chiến lược công nghệ và AI của Trung Quốc. NUS là hạt nhân của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo của Singapore.
Họ không chỉ đào tạo nhân lực, mà họ còn tham gia tạo tương lai quốc gia.
Điều đáng suy nghĩ hơn là AI đang làm thay đổi tận gốc mô hình đại học truyền thống. Lần đầu tiên trong lịch sử hiện đại, tri thức phổ thông không còn chủ yếu nằm trong giảng đường hay thư viện đại học; đại học đứng trước nguy cơ mất độc quyền tri thức, nền tảng quyền lực quan trọng của mình.
Khi tri thức phổ thông trở nên gần như miễn phí nhờ AI, giá trị của đại học sẽ không còn nằm ở việc truyền đạt cái đã biết, mà ở khả năng tạo ra cái chưa ai biết; không phải đào tạo những con người làm theo quy trình, mà đào tạo những người có khả năng tư duy độc lập, sáng tạo công nghệ và dẫn dắt xã hội trong môi trường đầy bất định.
Nếu không chuyển đổi kịp, nhiều đại học có thể tụt hậu ngay trong chính chức năng truyền thống của mình.
Không thể hình thành đại học tinh hoa nếu mọi quyết định học thuật, nhân sự và nghiên cứu đều bị băm nhỏ trong các quy trình hành chính. Một hệ thống quản trị thiên về xin - cho và kiểm soát sẽ rất khó tạo ra các đại học nghiên cứu đẳng cấp thế giới.
Nhưng thách thức lớn nhất của đại học VN hiện nay không đơn thuần là tiền bạc hay cơ sở vật chất. Điểm nghẽn cốt lõi nằm ở mô hình quản trị và tư duy phát triển. Bởi lẽ, một đại học nghiên cứu đúng nghĩa không chỉ dừng lại ở nhiệm vụ chuyển giao công nghệ. Sứ mệnh tối cao của nó là trở thành chiếc nôi đào tạo và hình thành các tầng lớp tinh hoa, từ khoa học, công nghệ đến quản trị chính sách và doanh nghiệp, những bộ óc đủ tầm dẫn dắt tương lai quốc gia.
Tinh thần của đại học nghiên cứu là tự do học thuật, tranh luận và chấp nhận rủi ro sáng tạo.
Nhưng mô hình quản lý hiện nay lại thiên về kiểm soát, cào bằng và an toàn. Chúng ta muốn đại học đổi mới sáng tạo, nhưng lại vận hành bằng tư duy của một đơn vị sự nghiệp hành chính.
Không thể hình thành đại học tinh hoa nếu mọi quyết định học thuật, nhân sự và nghiên cứu đều bị băm nhỏ trong các quy trình hành chính. Một hệ thống quản trị thiên về xin - cho và kiểm soát sẽ rất khó tạo ra các đại học nghiên cứu đẳng cấp thế giới.
Không thể có nghiên cứu đột phá nếu môi trường học thuật thiếu phản biện thực chất và cạnh tranh học thuật đúng nghĩa.
Không thể thu hút nhân tài toàn cầu hay các nhà khoa học VN hàng đầu trở về nếu cơ chế tuyển dụng, đãi ngộ và hợp tác quốc tế vẫn chậm chạp, khép kín và thiếu chuẩn quốc tế.
Điều đáng mừng là lần đầu tiên, VN đặt khoa học - công nghệ, giáo dục đại học và đổi mới sáng tạo vào trung tâm chiến lược phát triển quốc gia. Chủ trương dành 20% ngân sách nhà nước cho giáo dục - đào tạo và khoảng 2% GDP cho khoa học - công nghệ là một quyết định lớn, cho thấy tư duy phát triển quốc gia đã thay đổi.

VN cần những đại học có khả năng tạo tri thức mới, công nghệ mới và các lực lượng tinh hoa mới cho quốc gia
Ảnh: Nhật Thịnh
Cần cơ chế vượt chuẩn thông thường cho các đại học quốc gia
Nhưng nguồn lực dù lớn đến đâu cũng mới chỉ là điều kiện cần. Điều kiện đủ là dám thay đổi mô hình phát triển đại học.
VN không cần thêm những đại học lớn về quy mô. VN cần những đại học có khả năng tạo tri thức mới, công nghệ mới và các lực lượng tinh hoa mới cho quốc gia. Muốn vậy, phải chấp nhận cơ chế vượt chuẩn thông thường cho các đại học quốc gia: tự trị học thuật thực chất, cạnh tranh nhân tài toàn cầu và mô hình quản trị theo chuẩn quốc tế.
Cần nhìn nhận đúng định nghĩa: tự chủ đại học tuyệt đối không phải là sự đánh đồng với việc Nhà nước "khoán tài chính" để đại học tự lo trong bài toán tăng học phí, mà đó là một cam kết thể chế: Nhà nước tiếp tục đầu tư trọng điểm, chiến lược nhưng kiên quyết buông bỏ tư duy kiểm soát hành chính, trao lại quyền tự trị học thuật thực chất cho giảng đường.
Nếu không hình thành được ít nhất vài đại học nghiên cứu đủ mạnh trong 15-20 năm tới, VN có nguy cơ tiếp tục đứng ở vị trí gia công công nghệ và phụ thuộc tri thức trong chuỗi giá trị toàn cầu, ngay cả khi có thêm vốn đầu tư hay hạ tầng hiện đại.
Điều Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đặt ra với Đại học Quốc gia Hà Nội thực chất là một yêu cầu chiến lược đối với tương lai VN: phải hình thành những "đầu tàu trí tuệ" đủ sức dẫn dắt công nghệ, đổi mới sáng tạo và năng lực cạnh tranh quốc gia trong nhiều thập niên tới.
Trong thế kỷ 21, khoảng cách giữa các quốc gia sẽ ngày càng được quyết định bởi năng lực tạo ra tri thức và công nghệ. Vì vậy, cải cách đại học không còn là câu chuyện riêng của ngành giáo dục.
Muốn trở thành quốc gia phát triển, VN trước hết phải trở thành quốc gia có đại học nghiên cứu mạnh.




.jpg)





.jpg)



