
Toàn cảnh khu nhà lưu niệm danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn ẢNH: CẨM HÀ
Khoa thi Đình năm 1752 (niên hiệu Cảnh Hưng), Lê Quý Đôn đỗ Bảng nhãn không lấy Trạng nguyên, nên thực tế ông là người đỗ đầu kỳ thi. Trước đó, ông cũng đỗ Hội nguyên tại kỳ thi Hội.
Nằm chính giữa khuôn viên rộng 5 ha là bức tượng Lê Quý Đôn bằng đá xanh, mặc áo dài khăn đóng, tay cầm một chồng sách, nét mặt tĩnh tại, đôi mắt nhìn xa, đượm vẻ ưu tư.
Phía sau bức tượng là khu đền thờ chính được xây dựng khang trang với các bộ vì kèo bằng gỗ quý, chạm khắc tinh xảo; hai bên tả hữu có nhà trưng bày giới thiệu về cuộc đời, sự nghiệp, các tác phẩm tiêu biểu (như Vân đài loại ngữ, Phủ biên tạp lục...) của Lê Quý Đôn và nhà biện lễ, tiếp khách.
Nhà trưng bày có sử dụng công nghệ trình chiếu 3D và các bảng tương tác để giới thiệu về 9 chương của bộ Vân đài loại ngữ. Các bản sắc phong quý giá đã được đưa vào tủ kính bảo ôn để giới thiệu tới du khách trong dịp đại lễ tháng 8 tới đây.

Cổng vào nhà từ đường danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn ẢNH: CẨM HÀ
Tuy nhiên, đem lại cho tôi nhiều cảm xúc hơn cả lại là khu nhà thờ họ Lê. Đó là một nếp nhà nhỏ có mặt tiền chênh chếch, khiêm tốn, được dựng theo lối kiến trúc đặc trưng của vùng đồng bằng Bắc bộ.
Qua các đợt trùng tu, dòng họ và chính quyền địa phương vẫn cố gắng bảo tồn nguyên trạng các cột gỗ, mái ngói cổ và hệ thống hoành phi, câu đối. Tại đây vẫn còn lưu giữ một số sắc phong và tài liệu quý về dòng họ Lê qua các triều đại.
"Vô danh hóa" mộ phần
Thực tế, Lê Quý Đôn không sinh ra tại quê nhà, mà sinh tại phường Bích Câu, kinh thành Thăng Long, cũng là nơi cha ông - tiến sĩ Lê Trọng Thứ - đã lập gia đình và sinh sống nhiều năm. Và, mặc dù là một danh nhân mà kiến thức và sự nghiệp khoa học được công nhận rộng rãi, song xung quanh cuộc đời nhiều thăng trầm của Lê Quý Đôn vẫn còn rất nhiều điều hậu thế chưa được tỏ tường.
Sau khi đỗ đạt vinh hiển, từ năm 1752 đến 1762 là 10 năm đầu làm quan tương đối suôn sẻ và thăng tiến của Lê Quý Đôn. Nhưng tiếp đó là hơn 20 lăn lộn chốn quan trường với biết bao gập ghềnh chìm nổi. Lắm kẻ vì đố kỵ tài năng mà công kích, lũ tham quan ô lại luôn rình rập, mưu hại ông. Nhà chúa tuy nể phục tài năng, nhưng khi tin dùng ông chỉ có mức độ; đặc biệt là khi ông thẳng thắn dâng khải về phép trị nước, trong khi Trịnh Doanh đam mê tửu sắc, sao nhãng triều chính.

Nhà từ đường danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn ẢNH: BAN QUẢN LÝ KHU LƯU NIỆM
Năm chưa đầy 40 tuổi, Lê Quý Đôn dâng khải cáo quan, Trịnh Doanh bèn hạ lệnh bãi chức. Cuối năm 1766, Trịnh Doanh chết, Trịnh Sâm lên nối ngôi chúa, đã phục chức cho Lê Quý Đôn. Nhiều kiến nghị ích nước, lợi dân của ông như mộ dân khẩn hoang, lập ấp; điều tra lại đất đai, làm lại sổ hộ tịch, xem xét lại việc bổ nhiệm quan lại; quyên tiền và thóc của nhà giàu để phát chẩn cho dân đói kém, bớt thuế vụ chiêm, giảm bắt phu... đã được Chúa Trịnh Sâm chuẩn thuận.
Đáng nói là bên cạnh vai trò công chức mẫn cán của triều đình, Lê Quý Đôn chưa bao giờ ngừng nghiên cứu. Ông đã tập hợp, biên soạn nhiều tác phẩm vĩ đại như Vân đài loại ngữ (9 quyển) - tác phẩm khảo cứu, hệ thống hóa kiến thức về triết học, khoa học, văn học, địa lý; Phủ biên tạp lục (6 quyển) - ghi chép chi tiết về tình hình xã hội, kinh tế, văn hóa Đàng Trong thế kỷ 18; Đại Việt thông sử (30 quyển) ghi chép về triều Lê từ Lê Thái Tổ đến Lê Cung Hoàng; Quế Đường thi tập và Quế Đường văn tập; Bắc sứ thông lục - ghi chép về chuyến đi sứ sang Trung Quốc…
Cho đến nay, Vân đài loại ngữ và Phủ biên tạp lục vẫn được coi là những nguồn tài liệu quý giá bậc nhất cho các nhà nghiên cứu lịch sử.
Năm 1784, Lê Quý Đôn mắc bệnh, xin về chữa thuốc tại quê ngoại Duy Tiên (Hà Nam, nay là Ninh Bình) và mất ngày 2.6 năm đó, được truy phong Thượng thư Bộ Công. Điều đặc biệt là không ai biết phần mộ của Lê Quý Đôn nằm ở đâu.
Trò chuyện với tôi, ông Lê Quý Tự, hậu duệ dòng họ Lê, lý giải, Lê Quý Đôn sống và làm quan trong thời kỳ đầy biến động (cuối triều Lê - Trịnh). Ông là người nắm giữ nhiều bí mật quốc gia và cũng có nhiều đối thủ chính trị. Những trước tác của ông, đặc biệt là về biển đảo, rất hệ trọng đối với chủ quyền quốc gia trên Biển Đông. Việc "vô danh hóa" mộ phần là cách để bảo vệ thi hài khỏi sự trả thù hoặc xâm phạm của kẻ thù trong những cuộc chính biến sau này.
Mặt khác, với một nhà bác học am hiểu sâu sắc về triết học như ông, việc không để lại dấu tích vật chất quá phô trương sau khi mất cũng phù hợp với tư tưởng coi trọng sự vận động vĩnh hằng của vũ trụ.
Rời nếp nhà xưa cũ ấy, văng vẳng bên tai tôi câu thơ man mác buồn của cụ Nguyễn Tiên Điền: "Bất tri tam bách dư niên hậu/Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như" (Ba trăm năm nữa ta đâu biết/Thiên hạ ai người khóc Tố Như?). Với cả hai cụ Nguyễn Du và Lê Quý Đôn, câu hỏi ấy đã được trả lời rất chắc chắn. Nhưng nỗi cô đơn của những thiên tài cương trực, liêm chính thì vẫn luôn còn đó, đau đáu như vầng trăng vằng vặc đêm rằm tháng giêng.





.jpg)




.jpg)



