Góp nhặt tìm hiểu lịch sử Việt: Vua Tự Đức qua dụ Tự biếm

17:09 - 10/03/2026

"Trần Viết Ngạc đã viết giúp chúng ta nhận diện rõ hơn nhiều nhân vật quan trọng. Các tài liệu sử dụng đa dạng, từ thư tịch Hán Nôm đến ảnh chụp, văn bản gốc từ lưu trữ của VN, của Pháp…

Cho phép tác giả thuyết phục bằng dữ liệu, bằng hình ảnh, bằng chứng lý, không có chút giáo điều, cũng là quý hiếm tại VN", TS lịch sử Bùi Trân Phượng nhận xét về cuốn sách Góp nhặt tìm hiểu lịch sử Việt của nhà nghiên cứu Trần Viết Ngạc. Thanh Niên trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc một số nội dung trong sách.
Góp nhặt tìm hiểu lịch sử Việt: Vua Tự Đức qua dụ Tự biếm

Vua Tự Đức (1829 - 1883) Ảnh: Tư Liệu

Tự Đức là vị vua trị vì lâu nhất của triều Nguyễn (36 năm) và trực tiếp lãnh đạo công cuộc chống thực dân Pháp. Dụ Tự biếm là một bản tự phán xét qua đó sẽ giúp chúng ta hiểu nhà vua, một số châu phê (trích từ châu bản) cũng sẽ soi sáng một phần nhân cách của nhà vua.

Vua Tự Đức (1829 - 1883), húy là Hồng Nhậm, sinh ngày 25.8 năm Kỷ Sửu (22.9.1829), là con thứ hai của vua Thiệu Trị và Quý phi Phạm Thị Hằng. Nhà vua để lại nhiều văn thơ như: Ngự chế tam tập, Thánh chế thi tập, Từ huấn lục, Luận ngữ diễn ca, Việt sử tổng vịnh, Thập điều diễn ca, Khiêm cung ký... Đó là những tư liệu trực tiếp để chúng ta có thể tìm hiểu con người, tư tưởng và hành động của vua Tự Đức.

Dụ Tự biếm được ban hành ngày 2.6 năm Tự Đức thứ 29 (1876), được in lại trong Ngự chế văn tam tập, quyển thứ hai. Dụ được "bố cáo cho cả thiên hạ đều biết" về: Nguyên nhân quan trọng nào đã khiến nhà vua thất bại trong việc chống xâm lăng? Nhà vua tự nhận lỗi đã để mất "đất và dân" 6 tỉnh Nam kỳ; Nỗi vô vọng của nhà vua trước tương lai đất nước và tự đề nghị cách trừng phạt.

"Nguyên nhân quan trọng nhất khiến sự lãnh đạo chống xâm lăng không hiệu quả? Dụ rằng: Trẫm còn nhỏ tuổi, được lên ngôi báu, nhờ được tổ ấm, nhà nước toàn thịnh, việc nước việc đời chưa từng để ý, không hiểu [tác giả nhấn mạnh] lời dặn "ở yên phải nghĩ lúc nguy", đam mê theo sự vui chơi...".

Thật vậy, trong 4 vị vua đầu triều Nguyễn, Tự Đức lên ngôi lúc còn quá trẻ (18 tuổi) so với Gia Long (40 tuổi), Minh Mạng (29 tuổi) và Thiệu Trị (34 tuổi). Nhà vua còn bị "ru ngủ" 6 năm dưới thời vua cha (1841 - 1847). Công tử Hồng Nhậm sinh ra dưới triều Minh Mạng lúc hoàng tử Miên Tông mới 22 tuổi và Quý phi Phạm Thị Hằng 19 tuổi. Minh Mạng băng hà, hoàng tử Miên Tông nối ngôi và Hồng Nhậm trở thành hoàng tử lúc 12 tuổi.

Sáu năm dưới thời vua cha chính là thời gian un đúc nên vị vua tương lai.

Tiếc thay, Thiệu Trị "vốn người hiền hòa, siêng năng việc nước nhưng không bày ra những việc mới. Mọi việc nội trị cũng như ngoại giao đều noi theo đời Thánh tổ, mong giữ gìn những thành quả đạt được, nối tiếp và hoàn thiện những công việc còn dở dang...".

Vua Gia Long thống nhất đất nước sau gần 3 thế kỷ phân ly (1533 - 1802), vì vậy nhà vua phải tổ chức guồng máy cai trị theo chính sách địa phương phân quyền. Phải gần 3 thập niên sau, Minh Mạng mới cải tổ guồng máy hành chính địa phương theo chính sách trung ương tập quyền: bỏ 2 đơn vị hành chính lớn nhất là Bắc Thành và Gia Định Thành, bãi bỏ chức tổng trấn; đổi trấn doanh thành tỉnh và đặt thêm 4 tỉnh mới: Hưng Yên, Ninh Bình, Hà Tĩnh và An Giang (1831). Chuyên hóa công việc cai trị cấp tỉnh bằng cách bỏ chức trấn thủ, lưu trấn mà đặt tuần vũ (chính trị), bố chánh (tài chánh), án sát (hình án), lãnh binh (quân đội), đốc học (giáo dục)... Tại trung ương, Minh Mạng thiết lập thêm các cơ quan như Cơ mật viện, Đô sát viện, Tôn nhơn phủ...

Nếu Gia Long đặt nền móng cho một quốc gia rộng nhất kể từ Ngô Quyền đến bấy giờ thì Minh Mạng củng cố và hoàn thiện bộ máy cai trị của một đất nước thống nhất. Chính vì thế, Thiệu Trị xem thiết chế của vua cha là hoàn chỉnh không có gì phải thay đổi. Đúng như ý nghĩa của niên hiệu: thiệu là nối tiếp, tiếp bước, noi theo; trị là thời thái bình thịnh trị của triều Minh Mạng.

Suốt thời niên thiếu cho đến lúc lên ngôi, hoàng tử Hồng Nhậm không chứng kiến một biến động quan trọng nào, không thấy một cải cách nào. Ưa thích văn thơ như vua cha, được bà mẹ trẻ chăm sóc, bảo bọc, con trai duy nhất của bà Từ Dũ bị ru ngủ dưới thời "thiên hạ thái bình", như dòng sông Hương trôi xuôi êm ả, phẳng lặng trước mặt kinh thành. Ông không được chuẩn bị để đối phó với "việc đời và việc nước" đầy sóng gió mà quan trọng nhất là cuộc xâm lăng của một cường quốc Tây phương mà dân tộc chưa hề trải nghiệm. Nhà vua, vốn là một bậc thâm nho, không phải là không biết đến lời dặn của Khổng Tử "Cư an tư nguy, cư trị tư loạn" (lúc an vẫn phải nghĩ tới khi nguy, khi thịnh trị vẫn phải nghĩ tới nguy cơ loạn), nhưng nhà vua không hiểu tại sao phải như vậy. Điều kiện khách quan khiến nhà vua không sao hiểu được mối nguy đang rình rập ở cuối thời "thịnh trị nối dài". Nhà vua đã thiếu một đức tính quan trọng. Đó là tiên liệu, lo xa. Phương Tây có ngạn ngữ: "Cai trị là tiên liệu" (Régner, c'est prévoir). Đang lúc sung túc phải nghĩ đến lúc đói kém, đang lúc nóng bức phải nghĩ đến lúc trời giá rét (Tích cốc phòng cơ, tích y phòng hàn). Không tiên liệu thì khi xảy ra biến cố phải đối phó một cách thụ động, thiếu hiệu quả. Vua Tự Đức thú nhận: "Cứ việc tới thì lo, mà không giúp ích gì cho việc". 

(Trích từ sách Góp nhặt tìm hiểu lịch sử Việt của nhà nghiên cứu Trần Viết Ngạc do NXB Tổng hợp TP.HCM ấn hành)


 

 

 

 


Bình luận (0)

Gửi bình luận của bạn

Captcha

TIN CÙNG CHUYÊN MỤC

Tra cứu 3321 phường xã của 34 tỉnh, thành phố sau sáp nhập

lịch phát sóng trên truyền hình

Thanh toán hóa đơn SCTV

Quý cô lỡ thì - SCTV9

Lắp đặt Internet và truyền hình SCTV: Thêm tháng – Thêm quà – Thêm gắn kết

 

Tin tổng hợp

Liên kết trang

 

Truyen hinh cap va Mang Internet SCTV

 

sctvonline

Trang tin sống động từng giây scj-shopping
Trang tin chuyện nóng 24h

 

 

Nguồn: Minh Ngọc

Scroll

Đang gửi...