
Thí sinh thi tốt nghiệp THPT năm 2025 môn ngữ văn tại TP.HCM
Ảnh: Đào Ngọc Thạch
Kết quả đối sánh môn ngữ văn 6 thành phố trước sáp nhập
Trong nhiều năm, đánh giá chất lượng giáo dục Việt Nam chủ yếu dựa vào đối sánh kết quả thi THPT giữa các địa phương với so sánh chung toàn quốc. Cách làm này thiếu công bằng vì điều kiện kinh tế – xã hội, đầu vào học sinh rất khác nhau. Trong bối cảnh đó, đối sánh nhóm trở thành cách tiếp cận phù hợp. Đối sánh nhóm là so sánh kết quả học tập, thi cử giữa các đơn vị tương đồng về điều kiện. Chẳng hạn, với 6 thành phố trực thuộc T.Ư trước và sau khi sáp nhập.
Xét điểm trung bình môn ngữ văn giai đoạn 2021–2025, Hải Phòng dẫn đầu với hơn 7,44 điểm, tiếp đến là Hà Nội trên 7,14 điểm, đều cao hơn mức trung bình của nhóm khoảng 6,75 điểm. Hai địa phương này duy trì chất lượng khá ổn định. Huế đạt mức trung bình, có xu hướng cải thiện trong các năm 2024–2025 gần đây rõ rệt hơn.
Ngược lại, TP.HCM và Cần Thơ thuộc nhóm trung bình thấp, điểm số không quá yếu nhưng thứ hạng biến động mạnh. Đáng chú ý, Sóc Trăng có điểm ngữ văn cao hơn Cần Thơ và Hậu Giang. Điều này phản ánh đặc trưng đô thị lớn, nơi thí sinh đông, phân hóa cao và nhiều học sinh không đặt nặng kỳ thi tốt nghiệp THPT.
Riêng Đà Nẵng (cũ), điểm trung bình 5 năm chỉ hơn 6 điểm, thấp nhất; thứ hạng hầu như luôn nằm ở nhóm cuối của cả nước, và năm 2025 rơi xuống vị trí 63/63.
Để đảm bảo tính so sánh tương đồng, giá trị trung bình của nhóm được xác định bằng trung bình cộng điểm trung bình môn ngữ văn của 12 địa phương theo từng năm; trong khi đó, trung bình cả nước được tính bằng trung bình cộng điểm trung bình của 63 tỉnh, thành. Dữ liệu điểm thi và thứ hạng môn ngữ văn 12 địa phương thể hiện ở bảng sau.


Đồ họa: Hồ Sỹ Anh
Kết quả môn ngữ văn năm 2025 của 6 thành phố sau sáp nhập
Bức tranh điểm trung bình và xếp hạng môn ngữ văn năm 2025 của 6 thành phố trực thuộc T.Ư sau sáp nhập cho thấy sự phân hóa khá rõ.
Hà Nội giữ vị trí cao với 7,62 điểm, xếp 3/34, nhờ không thay đổi địa giới, bảo đảm sự ổn định về đội ngũ và cách đánh giá. Cần Thơ sau khi sáp nhập Hậu Giang và Sóc Trăng đạt 7,23 điểm, xếp 5/34; Huế với điểm trung bình 7,18 điểm, xếp 7/34, vẫn phát huy truyền thống dạy – học ngữ văn.
TP.HCM sáp nhập Bình Dương và Bà Rịa – Vũng Tàu đạt 7,07 điểm, xếp 9/34; Hải Phòng sáp nhập Hải Dương đạt 7,03 điểm, xếp 10/34.
Riêng Đà Nẵng sau khi sáp nhập với Quảng Nam chỉ đạt 6,26 điểm, xếp 33/34. Kết quả này vừa phản ánh sự chênh lệch vùng miền, vừa gợi lại tranh luận về cách chấm ngữ văn ở Đà Nẵng vốn được cho là nghiêm và chặt.

Nguồn: Số liệu công bố của Bộ GD-ĐT và tính toán của tác giả

Đồ họa: Hồ Sỹ Anh
Ngữ văn không còn là "môn trụ cột" ở đô thị hiện đại?
Một trong những nguyên nhân cốt lõi khiến chất lượng ngữ văn ở các thành phố không cao nằm ở sự thay đổi trong việc ưu tiên trong học tập. Trong nhiều năm, các đô thị lớn tập trung mạnh vào ngành nghề STEM, công nghệ, ngoại ngữ, kỹ năng số và hội nhập quốc tế. Đây là lựa chọn hợp lý trong bối cảnh phát triển kinh tế tri thức, kinh tế số nhưng hệ quả không mong muốn là ngữ văn dần bị đẩy xuống vị trí thứ yếu.
Với không ít học sinh thành phố, ngữ văn trở thành môn chỉ cần "đủ điểm tốt nghiệp", không phải môn quyết định tương lai. Khi động lực học tập không cao, kết quả trung bình khó có thể bứt phá, đặc biệt trong một kỳ thi ngày càng coi trọng năng lực đọc hiểu và nghị luận xã hội, thể hiện ý kiến cá nhân về một vấn đề nào đó.
Với trường hợp Đà Nẵng, thành phố này không chỉ được biết đến với sự quan tâm cho giáo dục mà còn nổi bật bởi văn hóa thi cử nghiêm túc, kỷ cương. Tuy nhiên, điểm thi môn ngữ văn thấp gần đây làm dấy lên nhiều tranh luận. Một số ý kiến cho rằng cách chấm thi còn chặt, thiên về "ý chuẩn", ít linh hoạt với bài viết sáng tạo. Ý kiến khác lại nhìn nhận học sinh chưa đầu tư đúng mức cho môn văn khi xu hướng lựa chọn các ngành STEM ngày càng mạnh.
Những nhận định này cần được nhìn nhận thận trọng nhưng có cơ sở. Đà Nẵng vốn đề cao sự chuẩn mực, rõ ràng trong quản lý – điều phù hợp với các lĩnh vực khoa học, công nghệ. Nhưng với ngữ văn, môn học đòi hỏi tư duy mở và cá tính, cách chấm quá khuôn mẫu có thể khiến những bài viết sáng tạo bị đánh giá thấp.
Từ năm 2025, khi đề thi ngữ văn không còn bám sách giáo khoa, tăng yêu cầu đọc hiểu và bày tỏ chính kiến, hạn chế này càng bộc lộ rõ. Chấm mở không đồng nghĩa với chấm dễ, mà đòi hỏi bản lĩnh nghề nghiệp và sự đổi mới tư duy của giáo viên.
Cũng cần nhấn mạnh rằng điểm thi thấp không đồng nghĩa học sinh Đà Nẵng yếu. Đây là địa phương có tỷ lệ học sinh theo học chương trình chất lượng cao, quốc tế khá lớn, nên ít tập trung vào bài thi ngữ văn theo chuẩn quốc gia. Dù vậy, trong bối cảnh hội nhập, năng lực ngôn ngữ và viết vẫn là nền tảng quan trọng cho học tập và phát triển lâu dài.
Trong khi đó, Hà Nội và Hải Phòng, cũng là những đô thị lớn, nhưng vẫn duy trì được chất lượng ngữ văn khá ổn định.
Huế là ví dụ điển hình cho sự trở lại của "văn hóa học văn". Khi đề thi chuyển sang đánh giá năng lực đọc hiểu, Huế – với truyền thống nhân văn và chiều sâu văn hóa – đã cải thiện thứ hạng rõ rệt năm 2024, 2025. Điều này cho thấy đề thi mới không bất lợi cho đô thị, mà bất lợi cho nơi chưa coi trọng năng lực ngôn ngữ đúng mức.
Giải pháp nâng cao chất lượng môn ngữ văn
Để nâng cao chất lượng môn ngữ văn, các thành phố cần thay đổi từ gốc, chứ không chỉ điều chỉnh kỹ thuật ôn thi hay chấm thi.
Trước hết, cần khẳng định ngữ văn là môn học công cụ, nền tảng cho tư duy phản biện, giao tiếp, hợp tác và sáng tạo – những năng lực cốt lõi của công dân toàn cầu. Ngữ văn không đối lập với STEM mà là môi trường để STEM vận hành hiệu quả. Ngữ văn cùng với toán là 2 trụ cột chính trong các tổ hợp tuyển sinh ĐH.
Thứ hai, cần đổi mới cách dạy theo hướng phát triển năng lực đọc – viết – nói – nghe, gắn với các vấn đề đương đại, liên ngành, toàn cầu. Học sinh phải được tranh luận, phản biện, trình bày chính kiến, thay vì chỉ học thuộc văn mẫu và phân tích tác phẩm.
Thứ ba, đổi mới cách chấm và đánh giá. Chấp nhận sự khác biệt có lý lẽ, khuyến khích lập luận độc lập, coi trọng cách diễn đạt sáng tạo. Đây là khâu khó nhất nhưng quyết định thành công của đề thi mở. Riêng Đà Nẵng, giải pháp then chốt là chuyển từ kỷ cương cứng sang kỷ cương mềm trong môn ngữ văn. Nghiêm túc không đồng nghĩa với khép chặt. Thành phố cần đầu tư bồi dưỡng giáo viên ngữ văn theo hướng giáo dục ngôn ngữ hiện đại, giúp họ tự tin đánh giá bài viết sáng tạo mà vẫn công bằng.
Cùng đó, đưa ngữ văn trở lại đúng vị thế trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực: coi năng lực diễn đạt, thuyết phục, phản biện là kỹ năng sống còn của công dân toàn cầu và trái tim bản sắc dân tộc Việt Nam.




.jpg)





.jpg)



