Từ trung tâm TP.Huế đi theo QL49 hướng về biển Thuận An, qua cầu Tam Giang rồi tiếp tục hành trình ra hướng bắc với tổng đoạn đường hơn 30 km là đến địa phận làng Kế Môn.
Theo sử sách ghi lại, làng Kế Môn được thành lập vào thế kỷ 14. Xưa làng thuộc vùng ngũ điền gồm 5 xã Điền Hương, Điền Môn, Điền Lộc, Điền Hòa, Điền Hải, vốn là vùng đồng ruộng nằm trên dải đất hẹp giữa phá Tam Giang phía trong và Biển Đông phía ngoài. Vùng đất hẹp một bên là đồng ruộng giáp phá Tam Giang, sau lưng dựa vào đồi cát tiếp giáp với biển đã tạo nên cảnh quan làng quê yên bình, thơ mộng.
Người dân làng Kế Môn từ khi khai canh, khẩn ấp chủ yếu sinh sống bằng nghề làm ruộng và đánh bắt cá tôm. Đời sống thuần nông tuy không cơ hàn nhưng cũng không mấy khấm khá so với các làng quê bên cạnh. Cho đến năm Quý Mão (1783), một sự kiện đã làm thay đổi vận mệnh của ngôi làng ven biển này.

Toàn cảnh nhà thờ Tổ kim hoàn tại làng Kế Môn ẢNH: BÙI NGỌC LONG
Theo lời các bô lão, vào năm đó, quân Trịnh chiếm đóng Phú Xuân, đường vào Thuận Hóa thông thương. Nhận thấy xứ Đàng Trong thuận lợi cho nghề làm vàng bạc nên ông Cao Đình Độ rời làng Cẩm Tú (Thanh Hóa) cùng vợ con men theo bờ biển vào Thuận Hóa lập nghiệp.
Khi thuyền chở gia đình ông đi đến cửa sông Ô Lâu, ngay vị trí có tên Bàu Ngược - khu vực có vùng nước xoáy rất dữ thì gặp nạn. Người dân làng Kế Môn đang đánh bắt cá gần cửa sông liền đến ứng cứu, đưa gia đình ông Cao Đình Độ vào bờ và cưu mang. Nhận thấy người dân quê nơi đây thuần phác, giàu tình người nên ông quyết định ở lại cư ngụ. Để đền đáp ơn cứu mạng, ông Cao Đình Độ đem nghề kim hoàn truyền dạy cho người dân. Từ đó, nghề kim hoàn ở làng Kế Môn dần phát triển khi nhiều khách hàng thuộc giới quyền quý, quan lại tìm đến đặt hàng.

Cảnh trên cao từ nhà thờ Tổ kim hoàn làng Kế Môn nhìn ra đồng ruộng ẢNH: BÙI NGỌC LONG
Tiếng lành đồn xa, năm 1790, vua Quang Trung triệu cha con ông Cao Đình Độ vào triều để lập đội Cơ vệ Ngân tượng và phong chức. Sau khi vào triều nhậm chức Lãnh binh và Phó lãnh binh, cha con ông Cao Đình Độ tuyển dụng một số thợ vàng bạc của làng Kế Môn đưa vào cung để cùng làm việc. Có thêm nghề kim hoàn và được vào triều làm việc nên dân làng Kế Môn có thêm cơ hội phát triển kinh tế.
ĐEM NGHỀ VÀNG ĐI KHẮP THẾ GIỚI
Ngày nay, khi đến làng Kế Môn, nhiều người không khỏi bất ngờ khi giữa làng quê đồng ruộng nhưng đường sá, cầu cống, đình làng đều được quy hoạch và xây dựng khang trang. Đặc biệt, trong làng có 16 nhà thờ họ rất uy nghi.
Thời điểm chúng tôi đến làng Kế Môn cũng trùng dịp làng sắp tổ chức lễ giỗ của ông Cao Đình Hương, đệ nhị tổ sư (ngày 27.2 âm lịch, nhằm ngày 14.4). Ông Hoàng Ngọc Sơn, 77 tuổi, thư ký của Ban quản lý nhà thờ Tổ kim hoàn tại làng Kế Môn, cho biết dân làng đang dọn dẹp vệ sinh nhà thờ để chuẩn bị cho lễ giỗ.

Ông Hoàng Ngọc Sơn (phải) trao đổi với PV Thanh Niên về làng vàng Kế Môn ẢNH: THÀNH ĐẠT
Ông Hoàng Ngọc Sơn cũng là thợ kim hoàn bậc thầy, từng học và hành nghề tại nhiều tiệm vàng từ Nha Trang đến Vinh từ năm 1964, đến những năm 1980 mới trở về quê.
Theo ông Sơn, làng Kế Môn hiện có hơn 500 gia đình và hầu như nhà nào cũng có con cái làm thợ vàng, trong đó có hàng trăm người làm chủ tiệm vàng tại nhiều tỉnh, thành trong nước và phát triển sang Lào, nhiều nhất vẫn là Mỹ và Canada.

Toàn cảnh làng Kế Môn trù phú hiện nay ẢNH: BÙI NGỌC LONG
Trong bài Nghề kim hoàn của người Kế Môn tại Mỹ đăng trên trang web của làng (langkemon.com.vn), nghệ nhân Hoàng Lý (ở TP.Houston, bang California, Mỹ) viết: "Nghề kim hoàn ở Mỹ tập trung ở 2 bang California và Texas - nơi có người Kế Môn định cư đông nhất. Ở bang California, các tiệm vàng đông nhất ở các thành phố San Francisco, Oakland, San Jose, Sacramento, Stockton và Fresno; còn ở Texas, ngoài 2 - 3 tiệm ở North Texas, số đông còn lại tập trung ở Houston. Mỗi bang có khoảng trên dưới 20 tiệm. Có thể nói, 20 năm từ 1980 - 2000 là thời kỳ vàng son của nghề kim hoàn của người làng Kế Môn ở Mỹ".
Năm 2003, một số chủ tiệm vàng thành đạt ở TP.HCM, Đà Nẵng và Gia Lai đã về Kế Môn kết hợp với ông Hoàng Ngọc Sơn phát động kêu gọi đóng góp kinh phí, xin đất của chính quyền để xây dựng nhà thờ Tổ kim hoàn khang trang làm nơi thờ tự, cũng là để ghi dấu vùng đất tổ - nơi khởi nguồn nghề kim hoàn rạng rỡ của Việt Nam.




.jpg)





.jpg)



