Tiềm năng xuất khẩu giáo dục của VN: Cần xây dựng chiến lược quốc gia

14:06 - 26/02/2026

Để hiện thực hóa xuất khẩu giáo dục, cần phải có một chiến lược giáo dục quốc tế tổng thể mang tầm quốc gia với sự vào cuộc của các bên liên quan từ chính phủ, chính quyền địa phương, cơ sở giáo dục tới những tổ chức trong và ngoài nước.

XÁC ĐỊNH RÕ MỤC TIÊU

Dành nhiều năm nghiên cứu về lĩnh vực xuất khẩu giáo dục, tiến sĩ Phạm Hiệp, Viện trưởng Viện Nghiên cứu giáo dục và chuyển giao tri thức (REK) thuộc Trường ĐH Thành Đô (Hà Nội), nhìn nhận điều VN cần là một chiến lược giáo dục quốc tế gồm lộ trình, đích đến, thành phần tham gia... Trong đó, việc xác định đích đến từ sớm là một trong những ưu tiên hàng đầu.

Ông Hiệp lấy ví dụ ở Mỹ, Singapore hay gần đây là Trung Quốc, đích đến cuối cùng những nước này đề ra là thu hút nhân tài. Với Anh hay Úc, đó là lợi ích kinh tế. Trong khi đó, Malaysia lại muốn định vị là một điểm đến du học của thế giới Hồi giáo.

Tiềm năng xuất khẩu giáo dục của VN: Cần xây dựng chiến lược quốc gia

Đoàn đại biểu VN tại Hội nghị và triển lãm giáo dục quốc tế khu vực châu Á - Thái Bình Dương (APAIE) 2026 đang diễn ra tại Hồng Kông. Đây là cơ hội để quảng bá giáo dục ĐH VN ra thế giới

ẢNH: BỘ GD-ĐT CUNG CẤP

"VN vẫn có thể đặt ra mục tiêu tìm kiếm nhân lực chất lượng cao hoặc thu được lợi ích kinh tế - nói cách khác là xuất khẩu giáo dục. Tuy nhiên, đây sẽ là mục tiêu rất xa, chưa thể thực hiện ngay được. Về ngắn hạn, chiến lược nên đề ra mục tiêu là tiếp tục quốc tế hóa hệ thống giáo dục trong nước nói riêng, đất nước nói chung. Tôi tin chúng ta còn rất nhiều dư địa để phát triển trước khi tính tới việc cạnh tranh với các điểm đến du học khác", ông nói.

Sở dĩ nhấn mạnh yếu tố quốc tế hóa vì tiến sĩ Hiệp tin rằng đất nước phải tạo ra một môi trường phù hợp cho sinh viên (SV), học giả quốc tế ở cấp quốc gia và địa phương, không nên chỉ dừng ở mỗi khuôn viên trường học. Trước hết, đó là những biển báo, hướng dẫn bằng tiếng Anh. Tiếp đó là xây dựng hoặc chỉnh trang những điểm sinh hoạt, vui chơi phù hợp với văn hóa, tín ngưỡng, tôn giáo... của người nước ngoài. Rộng hơn nữa là thiết kế, vận hành cả một tỉnh, thành để đón SV, học giả quốc tế. "Đây là điểm khó nhất", ông Hiệp nhấn mạnh.

Ngoài ra, cần cân nhắc phát triển giáo dục xuyên quốc gia (TNE) không chỉ dừng lại ở các chương trình liên kết đào tạo - hình thức chưa hiệu quả trong việc thu hút SV, học giả quốc tế tới VN học tập, nghiên cứu và còn mang tính riêng lẻ. Đích đến nên là thu hút phân hiệu của trường nước ngoài và xa hơn nữa là hình thành các khu giáo dục quốc tế - mô hình mà một số nước như Hàn Quốc, Trung Quốc, Malaysia đang thực hiện hiệu quả.

"Để tối ưu chi phí, thay vì quy hoạch khu vực mới hoàn toàn thì chúng ta có thể hình thành khu giáo dục quốc tế dựa trên những khu vực hiện có như khu công nghệ cao Hòa Lạc, khu công nghệ cao Đà Nẵng hay khu đô thị ĐH Quốc gia TP.HCM", tiến sĩ Hiệp đề xuất.

LINH HOẠT LÀ YẾU TỐ THEN CHỐT

Giáo sư Scott Thompson-Whiteside, Tổng giám đốc Trường ĐH RMIT VN, chia sẻ VN đã đạt nhiều tiến bộ trong việc xây dựng khung pháp lý rõ ràng, minh bạch hơn trong việc hợp tác quốc tế ở giáo dục ĐH, nổi bật là luật Giáo dục ĐH (sửa đổi). Mục tiêu thu hút đầu tư nước ngoài qua mô hình liên kết đào tạo hoặc mở phân hiệu quốc tế tại VN, cũng như tham vọng trở thành trung tâm thu hút SV quốc tế (SVQT) cũng là tín hiệu rất tích cực, theo vị giáo sư.

"Điều này thể hiện cam kết mạnh mẽ của VN đối với quốc tế hóa giáo dục và phát triển hệ thống giáo dục ĐH chất lượng cao. Tuy nhiên, khi lĩnh vực này ngày càng phát triển, tính linh hoạt sẽ là yếu tố then chốt. Các quy định cần thích ứng với các mô hình mới như học tập đa hình thức, học tập kết hợp thực tiễn và học tập suốt đời, đồng thời vẫn phải đảm bảo chất lượng", ông nhấn mạnh.

Nguồn thu ngoại tệ mới

Bà Bành Phạm Ngọc Vân, chuyên gia giáo dục quốc tế, công tác ở TP.HCM, nhận định việc hướng tới xuất khẩu giáo dục không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn góp phần nâng cao vị thế quốc tế của giáo dục, tạo động lực cải cách hệ thống giáo dục trong nước. Xuất khẩu giáo dục là bước chuyển then chốt để VN từ "quốc gia xuất khẩu SV" thành "quốc gia xuất khẩu tri thức".

"Khi SVQT học tập tại VN, họ cũng trở thành cầu nối văn hóa và kinh tế lâu dài, góp phần vào sự phát triển về nhiều mặt trong đời sống KT-XH tại VN", bà Vân nói thêm.

Trên bình diện quốc tế, giáo dục luôn được xem là một ngành dịch vụ xuất khẩu giá trị cao. Tại Úc, giáo dục quốc tế đóng góp 53,6 tỉ AUD (khoảng 1 triệu tỉ đồng) trong năm tài chính 2024-2025. Trong khi đó, giáo dục quốc tế là một trong 10 trụ cột xuất khẩu hằng năm của New Zealand.

Với Mỹ, SVQT theo học tại các cơ sở giáo dục ĐH nước này đóng góp 43,8 tỉ USD (khoảng 1,1 triệu tỉ đồng) cho nền kinh tế vào năm học 2023-2024. Anh thì coi giáo dục là một trong những mặt hàng xuất khẩu giá trị nhất cả nước, góp tới 32 tỉ GPB/năm (khoảng 1,1 triệu tỉ đồng) cho nền kinh tế, cao hơn cả ngành công nghiệp ô tô hay thực phẩm - đồ uống.

"Nếu tận dụng tốt hướng xuất khẩu giáo dục, VN sẽ tạo được nguồn thu ngoại tệ mới, giảm phụ thuộc vào hàng hóa truyền thống", bà Vân chia sẻ. Bởi theo bà, SVQT không chỉ đóng học phí mà còn thuê nhà, ăn uống, di chuyển, giải trí và chi tiêu nhiều khoản khác tại địa phương.

Một yếu tố then chốt khác là quyền làm việc cho SVQT, từ cơ hội làm thêm trong thời gian nghiên cứu, đào tạo tới cơ hội làm việc sau khi tốt nghiệp. Thực tế, Bộ GD-ĐT từng đề cập đến việc cho phép SVQT ở VN làm thêm 20 giờ/tuần tại dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc thù để thực hiện đột phá phát triển GD-ĐT. Tuy nhiên nội dung này đã không được thông qua, thế nên hiện nay chưa có quy định cụ thể số giờ SVQT được làm thêm.

"Quan trọng nhất, và cũng là điểm còn thiếu trong chính sách hiện nay, là tạo ra cơ hội việc làm cho SVQT trong thời gian học và sau tốt nghiệp", ông Matt Jansen, Trưởng phòng cấp cao Phòng Tuyển sinh quốc tế, Trường ĐH Anh quốc VN (Hưng Yên), chia sẻ. Do đó, ông đề xuất VN cần xem xét các chính sách tạo điều kiện cho SVQT ở lại làm việc, nhất là sau tốt nghiệp, để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và tăng thu hút các SVQT có trình độ cao.

PGS-TS Nguyễn Phú Khánh, Phó tổng giám đốc ĐH Phenikaa (Hà Nội), Chủ tịch Mạng lưới UK-Viet Nam EmpowerTNE, nhận định việc đi làm thêm không chỉ mang ý nghĩa tài chính mà còn tạo cơ hội để SVQT hòa nhập với cuộc sống tại VN.

Ngoài ra, ông Khánh nhấn mạnh các bên liên quan ở VN nên chuyển từ trạng thái chờ sang chủ động vươn ra quốc tế, đến nước ngoài tổ chức sự kiện gặp gỡ SV tiềm năng hoặc tham gia hội nghị, triển lãm giáo dục quốc tế để tiếp xúc trực tiếp với đối tác. "Việc tăng sự hiện diện của đất nước, nhà trường ở quốc gia của SVQT cũng giúp họ và gia đình thấy yên tâm hơn", ông nói.

Tiềm năng xuất khẩu giáo dục của VN: Cần xây dựng chiến lược quốc gia

Đại diện trường ĐH của VN trao đổi với đối tác nước ngoài tại Hội nghị và triển lãm giáo dục quốc tế khu vực châu Á - Thái Bình Dương (APAIE) 2026

Ảnh: Phạm Huy Tuân

TĂNG CƯỜNG TUYỂN SINH QUỐC TẾ

Trên thế giới, để phục vụ tuyển sinh quốc tế, nhiều trường ĐH nước ngoài sẽ ủy quyền cho các công ty du học (agent) bản địa hay hoạt động đa quốc gia. Sự thấu hiểu thị trường cùng khả năng hiện diện thường xuyên của những công ty này ở nước sở tại là động lực giúp thu hút SVQT, và đây là yếu tố VN có thể cân nhắc chuẩn hóa khi thiết kế chiến lược quốc gia, theo ông Nguyễn Thanh Vân, Giám đốc thị trường VN của AECC Global.

Nghiên cứu do Bộ GD-ĐT và Hội đồng Anh công bố năm 2024 khuyến nghị thêm, VN cần xem xét thành lập một cơ quan quốc gia chuyên trách nhằm hỗ trợ các trường thu hút SVQT và xây dựng quan hệ đối tác với các bên liên quan trong, ngoài nước. Cơ quan này nên phát triển một cổng thông tin cho SVQT tại VN như "Study in Vietnam", tương tự các mô hình "Study UK", "Study in Malaysia", cung cấp thông tin chính thức về cơ sở giáo dục, chương trình học, học bổng, thủ tục thị thực cũng như những hướng dẫn về sinh hoạt, đi lại...

Trao đổi thêm về vấn đề này, ông Matt Jansen cho rằng VN có chính sách thị thực (visa) "khá cởi mở" với SVQT, trong khi môi trường sống an toàn và thân thiện. "Đây cũng là thời điểm thuận lợi, khi các điểm đến du học truyền thống như Úc, Anh, Mỹ và Canada đang trở nên kém hấp dẫn hơn do chi phí cao và chính sách visa, di trú ngày càng chặt chẽ", ông Jansen chia sẻ.

 

 

 


Bình luận (0)

Gửi bình luận của bạn

Captcha

TIN CÙNG CHUYÊN MỤC

Tra cứu 3321 phường xã của 34 tỉnh, thành phố sau sáp nhập

Thanh toán hóa đơn SCTV

lịch phát sóng trên truyền hình

Nghịch duyên - SCTV9

Công chúa giá đáo - SCTV9

 

Bản lĩnh tuổi trẻ - SCTV9

Lắp đặt Internet và truyền hình SCTV: Thêm tháng – Thêm quà – Thêm gắn kết

 

Tin tổng hợp

Liên kết trang

 

Truyen hinh cap va Mang Internet SCTV

 

sctvonline

Trang tin sống động từng giây scj-shopping
Trang tin chuyện nóng 24h