Gìn giữ “Hồn Việt”

Ông Nguyễn Thanh Quang giới thiệu chiếc ấm do làng nghề Gia Thủy làm tại Lễ hội sen Đồng Tháp 2022.

 

Năm 2012, ông Nguyễn Thanh Quang cùng 2 đồng sự tay trắng khoác ba lô vào Nam lập nghiệp. Sau 10 năm, từ 3 người, Công ty Sứ Việt Nam của họ đã có hơn 300 nhân lực, 6 công ty trong hệ thống, tung ra thị trường hơn 4 triệu sản phẩm gốm sứ một năm, chuẩn bị ra mắt “Làng gốm Việt” - một “bảo tàng” làng nghề gốm sứ truyền thống Việt rộng 22.000m2. Bí quyết thành công của họ là gì?

- Trên thị trường gốm sứ có khá nhiều “tay chơi” sừng sỏ, đặc biệt là “gã khổng lồ” Trung Quốc, vậy bí quyết thành công của ông là gì?

Tôi xin được bắt đầu từ những ngày đầu chúng tôi vào Nam lập nghiệp. Giống như chúng tôi, có rất nhiều người Bắc vào Nam. Họ vào, mang theo cả văn hóa truyền thống Bắc Bộ. Chúng tôi nhận thấy họ có một nhu cầu sử dụng những đồ vật mang nét đặc trưng, thể hiện văn hóa truyền thống, ví dụ như những sản phẩm liên quan tới tâm linh, thờ cúng, rất cao. Từ đó, chúng tôi nhận ra rằng, mỗi một người Việt đều dành tình cảm rất lớn cho những gì đã ăn sâu vào trong con người từ bao đời qua. Người ta gọi đó là “Hồn Việt”.

Gốm sứ Trung Quốc rất đẹp, mẫu mã đa dạng, nhưng vẫn mang tinh thần, mang suy nghĩ của người Trung Quốc. Thành thử, chúng tôi chọn con đường chinh phục người tiêu dùng Việt bằng những sản phẩm gốm sứ “mang hồn Việt”.

Ngay trên đường Cộng Hòa (TP. HCM) đây, có cửa hàng gốm sứ Giang Tây nằm kẹp giữa 2 cửa hàng gốm Việt. Gốm Việt đắt hơn vậy mà vẫn đông khách hơn.

- Vậy, làm thế nào để có được sản phẩm gốm sứ “mang hồn Việt”, thưa ông?

Có một điều rất tiếc là các làng nghề truyền thống nói riêng, và gốm sứ nói chung của Việt Nam đang mai một dần. Các sản phẩm thủ công làm ra rất khó cạnh tranh trên thị trường vì mẫu mã ít và tương đối “tụt hậu”.

Chúng tôi tìm cách phối hợp 3 bên lại. Bên thị trường cập nhật thông tin xu hướng, nắm bắt nhu cầu mới nhất của thị trường. Bên chuyên gia, nghệ nhân tìm và giữ những nét đặc trưng “Việt”. Từ đây sẽ ra được ý tưởng, thiết kế cũng như công năng của sản phẩm. Có những sản phẩm về Phật giáo chẳng hạn, chúng tôi phải tham vấn rất nhiều sư thầy, nhiều vị Đại đức để đảm bảo các sản phẩm thể hiện đúng cốt lõi, đúng công năng, đúng tinh thần của Phật giáo.

Cuối cùng, đến lượt bên làng nghề sẽ biến những ý tưởng này thành sản phẩm thực. Mỗi làng nghề đều có sở trường riêng và sẽ làm tốt nhất nếu sản phẩm phù hợp với sở trường. Do đó, với mỗi mẫu, chúng tôi sẽ tìm, kết hợp với làng nghề có sở trường, có “chất đất” đúng với ý tưởng sản phẩm. Ví dụ như làng gốm Gia Thủy rất giỏi làm chum muối dưa cà, thì nay họ vẫn làm chum nhưng mà là những cái chum lớn, vuốt miệng cánh sen, đường nét chỉn chu để trưng bày, trang trí.

- Có phải vì gốm Việt đang mai một dần nhiều cái hay nên ông làm “bảo tàng Gốm Việt”?

Đúng. Dự án này của chúng tôi tên là Làng gốm Việt, rộng 22.000m2, dự kiến đầu tháng 10 này sẽ khai trương. Chúng tôi có tham vọng quy tụ được càng nhiều làng gốm truyền thống Việt càng tốt.

Việt Nam có rất nhiều làng gốm truyền thống nhưng lại không được nhiều người biết. Ngay như tôi là một người trong nghề, vậy mà gần đây về quê, tôi mới biết ngay sát quê mình có một làng gốm.

Chính vì có nhiều nên rất khó để một người bình thường có thể đi thăm, tìm hiểu được một cách tổng quan văn hóa gốm sứ Việt Nam. Chúng tôi mong muốn Làng gốm Việt sẽ vừa là một bảo tàng để một khách du lịch có thể nhanh nhất có được cái nhìn về nền văn hóa gốm sứ Việt, cả về sản phẩm lẫn quy trình, cách làm gốm sứ; vừa là nơi triển lãm, sàn giao dịch các sản phẩm gốm sứ của các làng nghề.

- Xin cảm ơn ông!